top of page

Cơ chế quá trình Cương dương: Cương dương là một quá trình huyết động học dựa trên sự giãn cơ trơn tại thể hang và những tiểu động mạch có liên quan.

Các thể hang của dương vật được cấu tạo bởi một mạng các tế bào cơ trơn và các xoang hang được bao phủ bên trong bởi tế bào nội mô, bên ngoài các thể hang là một bao mô liên kết . Bình thường các tế bào cơ trơn ở trạng thái co, do đó các xoang hang có thể tích nhỏ (dương vật xìu). Dưới tác động của kích thích tình dục, các cơ trơn dãn ra, máu dồn vào các xoang hang làm các xoang này tăng thể tích và ép vào các tĩnh mạch nằm dưới bao mô liên kết. Khi các tĩnh mạch bị ép, máu không thể dẫn lưu ra khỏi các xoang hang và ứ lại trong thể hang gây ra hiện tượng cương dương.

Để sự dãn cơ trơn xảy ra, cần có sự hiện diện của nitric oxide (NO) được tổng hợp trong các tế bào nội mô. Sau khi được tổng hợp ở nội mô, NO khuếch tán vào tế bào cơ trơn và hoạt hóa guanylyl cyclase, qua đó chuyển GTP thành GMP vòng. Kết quả là protein kinase C được hoạt hóa, lượng calcium nội bào giảm dẫn đến dãn tế bào cơ trơn.

Khi chuỗi tương tác trên  bị phá vỡ bởi các nguyên nhân về tâm lý, nội tiết, thần kinh, mạch máu cũng như tổn thương ở thể hang thì gây ra rối loạn cương dương (RLCD) ở nhiều mức độ khác nhau.

Cơ chế giảm sự cương dương:

PDE5 (phosphodiesterase type 5) là 1 thành viên của gia đình phosphodiesterase, nó có chức năng bẻ gãy cGMP và cAMP. Các phân tử cGMP và cAMP là các chất truyền tín hiệu nội bào có tác dụng đồng loạt đóng cửa kênh Ca2+ cùng lúc mở rộng kênh K+ gây giãn cơ trơn mạch máu.  Như vậy vai trò của PDẸ5 là phá hủy cGMP, giảm thiểu việc giãn cơ trơn và làm dương vật trở nên mềm, xìu lại bình thường. 

Thuốc điều trị RLCD: Thuốc ức chế PDE5 dùng trong điều trị RLCD là chất ức chế cạnh tranh, chọn lọc trên PDE5 (có nhiều ở thể hang dương vật). Khi có kích thích tình dục, NO từ các dây thần kinh, tế bào nội mô mạch máu, sẽ phóng thích vào thể hang làm giãn các mạch máu và thể hang gây hiện tượng cương dương. Chất ức chế PDE5 sẽ ngăn chặn quá trình phân hủy cGMP, từ đó làm tăng cường tác dụng giãn mạch của NO và khôi phục khả năng cương của dương vật ở những bệnh nhân bị RLCD.

Các thuốc ức chế PDE5 được dùng để điều trị RLCD. Hiện trên thị trường có 3 thuốc đang lưu hành là sildenafil, vardenafil và tadalafil. Các thuốc này đều có tác dụng ức chế enzym PDE5 (phosphodiesterase type 5). Tùy vào các hãng dược phẩm mà 3 loại thuốc này sẽ có các tên thương mại khác nhau, người dùng cần phân biệt trước khi sử dụng: 

  - Sildenafil: Viagra , có hiệu quả 1 giờ trước khi giao hợp, thời gian phân hủy (thuốc hết tác dụng) là 4 giờ. Được sử dụng chủ yếu trước khi giao hợp. Do vậy, cần phải lập thời gian biểu cho "chuyện ấy".

     Hầu hết các bệnh nhân được cho dùng liều 50mg khoảng 1 giờ trước khi quan hệ tình dục. Dựa trên đáp ứng của bệnh nhân (hiệu quả tác dụng, sự dung nạp thuốc) mà ta có thể điều chỉnh liều dùng, có thể giảm xuống 25mg hay tăng maximum 100mg. Nên dùng liều ban đầu 25mg ở các bệnh nhân lớn tuổi hoặc  người bị suy gan/suy thận. Thực phẩm giàu chất béo sẽ làm chậm sự hấp thu thuốc và làm giảm nồng độ đỉnh trong huyết tương. Thuốc sẽ được phân hủy thanh thải ở gan. Thuốc chỉ được dùng 1 lần trong ngày.

  - Tadalafil: Donaton, Cialis…, có hiệu quả 15 phút trước khi giao hợp, thời gian phân hủy (thuốc hết tác dụng) là 36 giờ. Có thể dùng trước khi giao hợp 45 phút. Nếu sử dụng hàng ngày thì nên dùng ở liều lượng 10mg hoặc 5mg (2 ngày 1 lần, dùng vào trước khi đi ngủ). Ưu điểm của cách dùng hàng ngày là liều thuốc thường thấp nên khả năng gặp các tác dụng không mong muốn ít hơn và bạn không cần phải lên kế hoạch trước cho "chuyện ấy", điều này phù hợp với bản chất tự nhiên và ngẫu hứng vốn có của chuyện chăn gối.  

  Thuốc được khuyến cáo 3 liều dùng 5,10,20 tùy theo trình trạng hấp thu và tác dụng thuốc của từng người. Thuốc được hấp thu nhanh và chuyển hóa, thanh thải chủ yếu ở gan. Thuốc có thời gian đạt nồng độ đỉnh là 2 giờ. Dược động học của thuốc không bị ảnh hưởng bởi thức ăn, tiểu đường, suy gan nhẹ/vừa.

  - Vardenafil: Levitra, có hiệu quả 30 phút trước khi giao hợp, thời gian phân hủy (thuốc hết tác dụng) là 4 giờ. Được dùng trước khi giao hợp 30 phút. Do vậy, cần phải lập thời gian biểu cho "chuyện ấy".

  Thuốc được khuyến cáo 3 liều dùng 5,10,20 tùy theo trình trạng hấp thu và tác dụng thuốc của từng người. Thuốc được hấp thu nhanh và chuyển hóa, thanh thải chủ yếu ở gan. Thuốc có thời gian đạt nồng độ đỉnh là 0.7 - 0.9 giờ. Sự hấp thu của thuốc sẽ giảm khi khẩu phần ăn có nhiều chất béo.

 

 

 

Thuốc ức chế PDE5 được nghiên cứu nhiều nhất là sildenafil. Sildenafil có hiệu quả cao trong điều trị RLC. Tadalafil có tác dụng tương tự nhưng có thời gian bán hủy dài nhất trong số 3 thuốc. Vardenafil có cấu trúc hóa học rất giống sildenafil và hiệu quả cũng tương đương sildenafil trong điều trị RLCD. Cả 3 loại thuốc này được dùng theo đường uống, tốt nhất là uống thuốc cùng nước đun sôi để nguội. Không nên dùng nước trái cây, các loại nước khoáng hay nước trà để uống thuốc, đặc biệt không nên ăn nho hay uống nước nho, vì nước nho làm tăng nồng độ của thuốc nên dễ dẫn đến các tác dụng không mong muốn. Ngoài ra, cũng không nên ăn những loại thức ăn có nhiều chất béo trong lúc dùng thuốc, vì chất béo làm cản trở sự hấp thu thuốc ở ruột non nên dẫn đến việc giảm tác dụng của thuốc.

Đây là các loại thuốc được nghiên cứu sử dụng trong việc điều trị RLCD, thuốc chỉ có tác dụng (làm dương vật cương cứng) khi có kích thích về tình dục như: suy nghĩ, xem phim khiêu dâm, sờ/chạm, chuẩn bị giao hợp..... Nếu không có những kích thích này thì thuốc không có hiệu lực. Vì thế đây tuyệt đối không phải là thuốc kích dục như mọi người thường nghĩ.

Về tương tác thuốc, cần lưu ý: đến sự tương tác giữa các thuốc ức chế PDE5 với các thuốc nhóm nitrate và các thuốc nhóm chẹn thụ thể alpha. Các thuốc ức chế PDE5 ức chế sự thoái gián GMP vòng, trong khi các thuốc nhóm nitrate có tác dụng tăng tổng hợp GMP vòng. Khi dùng 2 nhóm thuốc này chung với nhau, lượng GMP vòng sẽ tăng rất cao và có thể gây tụt huyết áp nguy hiểm (do dãn mạch mạnh). 

Chống chỉ định thuốc cho: bệnh nhân đang dùng nhóm nitrate. Bệnh nhân bị tụt huyết áp động mạch hoặc bị tụt huyết áp tư thế đứng. Dùng rất thận trọng trong trường hợp bệnh hẹp động mạch chủ và trong bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn. Bệnh nhân bị viêm võng mạc sắc tố.

Tác dụng phụ: 

- Cần thông báo cho bác sĩ biết nếu như đang dùng các thuốc chứa nitrate để điều trị đau thắt ngực, các thuốc chống đông và các thuốc chẹn thụ thể alpha giao cảm để điều trị u lành tính tuyến tiền liệt và tăng huyết áp.
Khi uống những viên thuốc đầu tiên, có thể sẽ thấy hơi đau đầu, ngạt mũi, nóng bừng mặt hay đau các khớp xương hoặc tức cơ, điều này sẽ nhanh chóng qua đi khi dùng những viên thuốc tiếp theo. Nếu những lần sau mà hiện tượng này vẫn còn thì cần báo cho bác sĩ biết để bác sĩ thay đổi loại thuốc khác phù hợp hơn.
 
- Nếu trong khi dùng thuốc mà tự nhiên thấy nhìn mờ đi hoặc ù tai thì phải ngừng thuốc và ngay lập tức báo cho bác sĩ để xác định nguyên nhân của hiện tượng này vì đôi khi có sự trùng hợp ngẫu nhiên trong khi dùng thuốc chứ không phải do tác dụng của  thuốc.
 
- Khi dùng thuốc mà bạn thấy dương vật cứ cương mãi, cứng mãi và kèm theo là cảm giác đau tức ở dương vật ngày càng tăng thì ngay lập tức bạn phải đến các phòng khám cấp cứu ngoại khoa để khám vì có thể bạn đang bị cương đau dương vật kéo dài (priapism). Trong tình huống này, càng đến viện sớm càng tốt, tốt nhất nên đến trước 4 giờ kể từ khi có triệu chứng cương đau dương vật như trên.
 
- Cho đến nay chưa có một nghiên cứu chính thức nào khẳng định các thuốc nói trên điếc tai, mù mắt hay chết đột ngột, do vậy không nên quá lo lắng về điều này khi có chỉ định dùng thuốc. 

 

Kết luận: 

Sự phát minh ra thuốc ức chế chọn lọc PDE5 đã mở ra một chương mới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục học. Việc điều trị bằng các thuốc này rõ ràng đã cải thiện chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân bị RLCD trên toàn thế giới. Cả 3 loại thuốc sidenafil, tadalafil và vardenafil đã được chứng minh về tính hiệu quả, an toàn, và khả năng dung nạp thuốc trong rất nhiều thử nghiệm lâm sàng.

bottom of page